Liên kết website - tìm kiếm
TTYT DP TP. ĐÀ NẴNG
Chào mừng đến với website www.yteduphongdanang.vn Thứ bảy, ngày 18 tháng 11 năm 2017
"Tiêm chủng, biện pháp hiệu quả bảo vệ trẻ em khỏi dịch, bệnh"
  • dan vu 2014

  • thieu nhi 2014

  • tap huan trien khai soi rubela o huyen

  • taphuan TCM

  • khambenh

  • taphuanphunthuoc

  • khambenh2

  • doanjica

  • daihoicongdoan

  • tuvan

  • betiemchung

  • daihoidangtapthenam

  • tangqua8.3

  • 8.3

  • thanhnien

  • sl5

  • sl3

  • sl2

  • 1

  • 5253

  • 0543

  • 04511

Hỗ trợ trực tuyến
Thư viện hình ảnh
Thời tiết

Hà Nội

Ðà Nẵng

TP Hồ Chí Minh


Vitamin những điều nên biết về sử dụng và bảo quản
Đà Nẵng, ngày 01 tháng 3 năm 2016
 Tóm lược về Vitamin

Vitamin là các chất hữu cơ có cấu trúc hóa học phức tạp. Vitamin giúp chúng ta sử dụng và biến những chất dinh dưỡng thường có phân tử rất lớn thành dạng dự trữ có các phân tử nhỏ hơn. Vitamin còn liên quan tới các quá trình sinh hóa và sinh lý khác của cơ thể như tác động vitamin A tới các tế bào mắt giúp chúng ta nhìn rõ các vật thể, mắt không bị khô và quáng gà. Vitamin D tác động tới chuyển hóa calci giúp hình thành xương và nhiều vitamin có vai trò như chất chống oxy hóa (antioxidant) bảo vệ tế bào chống lại các gốc tự do (free radical).

Các nhà khoa học đã phát hiện ra các vitamin khi xác định khả năng điều trị và phòng ngừa các bệnh cụ thể hoặc nhóm các triệu chứng bệnh nhất định. Ví dụ phát hiện chất có trong dịch quả chanh có thể chữa trị và phòng ngừa căn bệnh scurvy (thiếu hụt vitamin C) dẫn đến phát hiện ra cơ thể chúng ta cần vitamin C. Khuyến cáo về nhu cầu dinh dưỡng tạm gọi là KND (Dietary Reference Intake-DRI) xác định liều lượng tối thiểu và thêm một lượng nhỏ mỗi loại vitamin cần cho dự phòng các triệu chứng thiếu hụt vitamin ở người.

Ngày nay bệnh do thiếu hụt vitamin hiếm xảy ra, ngoại trừ người bị suy dinh dưỡng nặng hoặc ở đang mắc một số bệnh lý hoặc ở trạng thái sinh lý nhất định. Trong các nghiên cứu mang tính cách mạng dinh dưỡng thật sự đã thu được nhiều kết quả nhờ xác định và điều trị thiếu hụt các yếu tố dinh dưỡng nhất định để hiểu rõ một số vitamin (hoặc các loại thực phẩm có vitamin) có thể giúp duy trì sức khỏe, ngăn chặn tiến triển các bệnh mãn tính như ung thư và bệnh tim mạch ở những người cũng được dinh dưỡng đầy đủ.

Tháp hướng dẫn nhu cầu thực phẩm dựa trên KND. Tháp nhu cầu cho chúng ta biết lượng thực phẩm trong mỗi nhóm, giúp chúng ta nên sử dụng ở mức khuyến cáo các vitamin là bao nhiêu. Nghiên cứu dinh dưỡng cũng hỗ trợ xác định một vài vitamin và khoáng chất có vai trò chất chống oxy hóa có thể có lợi cho sức khỏe khi dùng số lượng hơi lớn hơn so với KND. Ý tưởng này đặt ra một số câu hỏi. Chúng ta có ăn vào quá nhiều vitamin không? Nếu nguồn vitamin cần thiết đến từ thực phẩm đã đủ chúng ta có cần bổ sung thêm vitamin không? KND về các vitamin có nên tăng lên không? Mặc dù thực sự chưa có câu trả lời cuối cùng cho các câu hỏi này, câu trả lời cho hai câu hỏi đầu tiên phụ thuộc vào loại vitamin. Như chúng ta đã đề cập hầu hết nguồn vitamin chính đến từ một số loại thực phẩm, bổ sung thêm đặc biệt một số vitamin chắc chắn có lợi cho sức khỏe nhưng cần chú ý không gây quá liều KND nhất là với các vitamin khi thừa gây nên các tác dụng không mong muốn.

Có thể phân loại 14 vitamin thiết yếu thành hai nhóm: vitamin tan trong nước và vitamin tan trong dầu. Phân loại theo dựa theo cấu trúc phân tử vitamin và quyết định cách vitamin vận chuyển trong thực phẩm và trong máu và cách dự trữ trong cơ thể con người. Phân loại vitamin và ý nghĩa với sức khỏe con người như sau:

Vitamin tan trong nước

Có 10 loại vitamin tan trong nước. Các vitamin nhóm B có vai trò khác nhau, một số vitamin nhóm này liên quan đến các tác dụng như phối hợp với điều chỉnh cơ thể sử dụng năng lượng từ thức ăn. Axit folic một yếu tố quan trọng trong điều chỉnh lớn lên và phát triển. Trong giai đoạn đầu thai kỳ axit folic rất quan trọng giúp ngăn ngừa một dị tật bẩm sinh như một khiếm khuyết ống thần kinh. Vitamin C còn gọi là acid ascorbic có nhiều chức năng như đặc tính chống oxy hóa, tác dụng tăng cường miễn dịch (cảm cúm, cần khi bị các chứng bệnh lây nhiễm), tăng cường chuyển hóa…

Như tên gọi các vitamin có ái lực với nước đều dễ tan trong nước. Cơ thể chúng ta cần duy trì mức độ tối ưu từng loại vitamin tan trong nước cho nhu cầu trước mắt. Vitamin tan trong nước dư thừa sẽ bài tiết qua nước tiểu và mồ hôi, vì vitamin nhóm này không dự trữ trong cơ thể ở mức độ nào đáng kể. Do đó vitamin tan trong nước phải bổ sung gần như hàng ngày, tốt nhất nên ăn những loại thực phẩm giàu  vitamin. Trái cây rau, ngũ cốc và đậu là nguồn giàu vitamin tan trong nước (ngoại trừ vitamin B12 chỉ thấy có ở thực phẩm nguồn gốc động vật). Tuy nhiên nếu bạn chọn vitamin tổng hợp để bổ sung một hay nhiều loại vitamin tan trong nước, nên theo KND hoặc tốt nhất nên hỏi ý kiến bác sỹ hay dược sỹ đại học điều hành nhà thuốc cộng đồng hoặc các dược sỹ lâm sàng vì liều cao một số vitamin nhóm B có thể có những ảnh hưởng có hại cho sức khỏe, liều cao vitamin C có thể gây hoặc làm tăng sỏi thận, liều cao vitamin PP có thể gây dị ứng.

Vitamin tan trong dầu

Các vitamin tan trong dầu hay chất béo gồm A, D, E, và K, có trong thực phẩm bạn ăn hàng ngày. Vitamin nhóm này hấp thu vào máu và đi khắp cơ thể cùng với các phân tử chất béo. Bởi vì vitamin tan trong dầu có thể dự trữ trong cơ thể, vitamin nhóm này không cần phải bổ sung hàng ngày. Vitamin A và D dự trữ trong gan và có thể đủ cho 6 tháng. Dự trữ vitamin K chỉ có thể đủ cho một vài tuần và dự trữ vitamin E có thể kéo dài khoảng từ vài ngày tới vài tháng.

Dùng quá nhiều thường xuyên các dạng bào chế cũng như thực phẩm bổ sung hoặc thực phẩm chức năng có vitamin tan trong dầu sẽ tích lũy quá nhiều trong cơ thể. Tích lũy quá nhiều vitamin A và D có thể có hại cho sức khỏe. Khá may mắn rất khó xảy ra tích lũy quá nhiều các vitamin tan trong dầu do ăn uống. Ví dụ beta-caroten, các phân tử tiền vitamin A có trong nhiều thực phẩm nguồn gốc thực vật như cà rốt, bí đỏ, soài, đu đủ, gấc. Các thực phẩm này chuyển đổi hạn chế beta-caroten thành vitamin A trong cơ thể. Các phản ứng hóa học chuyển đổi này được cơ thể kiểm soát theo một cơ chế chặt chẽ nên gần như không gây ngộ độc vitamin A do ăn nhiều rau quả màu vàng. Tuy nhiên có thể biểu hiện thấy vàng da nhưng đó chỉ là vàng da sinh lý không phải vàng da bệnh lý. Các thực phẩm có vitamin D, E, và K cũng vậy rất khó bị ngộ độc do nguồn dinh dưỡng chứa các vitamin này. Tuy nhiên ăn nhiều thực phẩm chứa vitamin K có thể gây hoặc làm tăng thời gian đông máu ở những người dùng thuốc chống đông (làm loãng máu). Do đó thận trọng sử dụng các thức ăn cũng như thực phẩm bổ sung hoăc thực phẩm chứa nhiều vitamin K. Bổ sung Vitamin E cũng không được khuyến khích thương xuyên. Một lần nữa cũng nên nhắc lại dù nhiều người hiểu vitamin là thuốc bổ nhưng muốn sử dụng an toan hiệu quả đều nên hỏi ý kiến các nhân viên y tế để có tư vấn tốt nhất.

Gần đây trên thị trường xuất hiện nhiều loại loại thuốc ức chế cơ thể hấp thụ chất béo đã gây lo ngại khả năng sử dụng các loại thuốc này có thể dẫn đến thiếu hụt vitamin tan trong dầu. Kết quả nghiên cứu sơ bộ cho thấy khi dùng theo chỉ dẫn, những loại thuốc này có thể gây trở ngại hấp thu beta-caroten và vitamin D từ thực phẩm. Nếu kết quả nghiên cứu này được thẩm định và công nhận người dùng những loại sản phẩm giảm béo này nên dùng thêm hàng ngày nhiều loại vitamin tan trong dầu để bù đắp thiếu hụt.

Bảo quản thuốc, thực phẩm chế biến, thực phẩm chức năng, mỹ phẩm có chứa vitamin

Các sản phẩm này có những quy định khác nhau về hạn dùng và thời hạn sử dụng do nhiều cơ quan khác nhau quản lý và giám sát nhưng đều có những điểm chung là đảm bảo an toàn và hiệu quả cũng như chất lượng cho người sử dụng.

  • Tủ lạnh :

Thuận tiện nhất để bảo quản các sản phẩm lỏng (xi rô, dung dịch, nhũ dịch, hỗn dịch…), kem, gel, sản phẩm có thể chất như thuốc mỡ, thuốc đạn, son môi (theo cách gọi nhà bào chế dưới quan điểm hóa lý là sản phẩm dạng bán rắn).
Hạn chế của tủ lạnh là môi trường tủ lạnh có độ ẩm cao. Các sản phẩm dạng viên (nén, nang cứng, nang mềm…), dạng bột dễ dính hoặc bết khi tiếp xúc với ẩm. Nếu sử dụng tủ lạnh bảo quản sản phẩm dạng viên, dạng bột cần giữ trong bao bì gốc của nhà sản xuất hoặc bao bì kín (đã mở bao bì gốc) khi này có thể thêm chất hút ẩm (silicagen) và cho toàn bộ vào nhiều lớp túi chất dẻo, đậy nắp kín buộc các lớp túi chặt.

  • Nhà tắm:  Nhiều người nghĩ để tủ nhỏ trong nhà tắm để bảo quản sản phẩm nhưng cần lưu ý đó không phải là nơi phù hợp cất giữ sản phẩm vì độ ẩm cao và nhiệt độ cũng lên xuống thất thường.
  • Bếp: Nhiều sản phẩm có vitamin thường sử dung trước khi bắt đầu ăn nhiều người nghĩ để các sản phẩm ở bếp là thuận tiện có thể giúp chúng ta không quên dùng sản phẩm. Nhưng bếp cũng là nơi nhiệt độ thất thường khi ta đun nấu cũng như vận hành lò nướng hoặc lò quay.
  • Mang theo bên mình (túi quần, túi áo, túi xách tay): Nhiều bạn trẻ do áp lực công việc thường hay quên sử dụng sản phẩm theo hướng dẫn hoặc chỉ định. Các bạn có sáng kiến mang theo bên mình như cho vào túi quần, túi áo, túi sách tay (các bạn nữ) như vậy sẽ làm sản phẩm mau hư hỏng vì nhiệt độ tỏa ra ở cơ thể, hoặc cho túi sách tay vào cốp xe đều có nhiệt độ cao làm sản phẩm bị hỏng nhanh.
  • Giữ xa tầm tay trẻ em: Thuốc, thực phẩm chế biến, thực phẩm chức năng, mỹ phẩm có chứa vitamin nói chung không phải là sản phẩm độc hại với nếu sử dụng đúng cách. Khi không có người lớn các bé có thể tìm được các sản phẩm này và cho vào mồm ăn, đặc biệt các sản phẩm trình bày hấp dẫn vì thế có thể dẫn tới hậu quả đáng tiếc. Để tránh điều này cần giữ các sản phẩm ngoài tầm tay các bé. Khi phải giữ trong tủ lạnh nên để phía sau và có bao gói che đi để các cháu không nhìn thấy.
  • Giữ nguyên bao bì gốc: Bao bì gốc sản phẩm giúp giữ sản phẩm có điều kiện tối ưu để bảo quản, hầu hết bao bì trực tiếp đều có màu sẫm hoặc ánh sáng không xuyên qua được để tránh tác động và ảnh hưởng bất lợi của ánh sáng. Bao bì gốc sản phẩm bao giờ cũng chứa các thông tin quan trọng như hạn dùng, ngày sản xuất. Nguồn gốc xuất xứ sản phẩm các thông tin này giúp ta loại bỏ sản phẩm hết hạn cũng như khi có thông báo thu hồi sản phẩm và truy xuất nguồn gốc khi cần thiết.
  • Kiểm tra hạn dùng: Một lý do nữa cần giữ sản phẩm trong bao bì gốc để theo dõi được hạn dùng. Một số sản phẩm có vitamin có thời gian sử dụng khá ngắn và nói chung đều mất hiệu lực trước thời hạn đó. Nếu ta có sản phẩm có hạn dùng khác nhau cần sắp xếp thuận tiện để sử dụng các sản phẩm ngắn hạn hơn trước. Tránh lãng phí và gây ô nhiễm môi trường vì các sản phẩm quá hạn.
  • Hạn dùng và điều kiện bảo quản sau khi mở lọ: Cho đến nay nhiều nước vẫn chưa có quy định rõ ràng và bắt buộc ghi nhãn về hạn dùng và điều kiện bảo quản sau khi mở lọ. Chẳng hạn như: “Lọ xi rô thuốc, thuốc nhỏ mắt, cốm pha hỗn dịch sau khi mở gói pha theo hướng dẫn của nhà sản xuất, lọ thuốc đóng gói 500 viên chỉ định mỗi ngày dùng 2 viên sau khi mở ra đến khi nào cần loại bỏ?”

Theo “Remedy’sRx Specialty Pharmacy” hướng dẫn sử dụng thuốc: “Các loại thuốc lỏng nên bỏ đi sau khi mở lọ 28 ngày trong điều kiện bảo quản 2-8 °C (tủ lạnh).”

Theo một bài báo trên Tạp chí Dược phẩm (The Pharmaceutical Journal) của Hiệp hội Dược Phẩm Hoàng gia Vương quốc Anh (Royal Pharmaceutical Society) thuốc nhỏ mắt chloramphenicol 5%:

  • Ổn định ở điều kiện nhiệt độ 25 °C trong bốn tháng.
  • Ở điều kiện bảo quản lạnh 2-8 °C sau khi mở lọ thuốc tuổi thọ của thuốc là 28 ngày.
  • Một đợt điều trị thường 5 ngày nên người ta khuyên bỏ lọ thuốc sau khi dùng.

Trong một số tài liệu về pha chế theo đơn tại nhà thuốc ở nước ngoài thường đưa ra số liệu các chế phẩm rắn không không bảo quản quá 6 tháng các sản phẩm thuốc dạng bán rắn, son môi, thuốc nước không nên bảo quản quá 4 tuần.

Các loại thuốc sau khi mở lọ ra bán lẻ tại nhà thuốc cộng đồng cũng không nên quá sáu tháng. Điều này gợi ý những bạn mua các loai thực phẩm chức năng (trong đó có các vitamin) online những lọ đóng gói vài trăm viên sau khi mở lọ chỉ nên dùng dưới 6 tháng.

Một điều nữa cần lưu ý ngoài kiểm tra hạn dùng, lưu ý thời gian bảo giữ thuốc sau khi mở lọ còn nên chú ý đến mùi vị thể chất của sản phẩm. Nên loại bỏ viên nén, viên nang khi biến màu, dính vào lọ, bột bết, dung dịch bị cặn (kết tủa), hoặc có mùi khó chịu, sản phẩm dạng bán rắn chảy nước, không bám dính, phân lớp.

Chú ý với vitamin: Các nhà sản xuất cả dược phẩm lẫn thực phẩm chức năng cũng như mỹ phẩm thường hay sản xuất các sản phẩm dưới dạng:

  • Dung dịch nước nói chung kém bền vững, thường đóng gói trong bao bì có nút kín, chai lọ có màu. Những sản phẩm này chỉ nên bảo quản không quá một tháng kể từ khi mở lọ. Để tránh quên có thể ghi lên nhãn ngày mở lọ.
  • Sản phẩm dạng bán rắn ổn định có thể bảo quản tới 6 tuần.
  • Sản dạng rắn như thuốc bột cũng chỉ nên giữ tới tuần 6.
  • Viên nang, viên nén (bao hoặc không bao) không giữ quá 6 tháng.

                                                                       Bs. Nguyễn Hóa

                                                                                 (Nguồn  http://wp.me/p7dfsE-3Og)